| (CATP) Trên đất nước ta chỉ có hai tỉnh nằm ở điểm giáp ranh ba biên giới là Điện Biên và Kon Tum. Ở Điện Biên là bản A Pa Chải của dân tộc Hà Nhì, thuộc xã Xín Mần, huyện Mường Nhé (giáp Lào và Trung Quốc). Ở Kon Tum là buôn I ệk của đồng bào Ca Dong, thuộc xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi (giáp Lào và Campuchia). Tại ngã ba Đông Dương, đường 40 trên đất Việt Nam chia hai hướng, sang tỉnh Attapeu (Lào) và tỉnh Ratanakiri (Campuchia) được mệnh danh là “một tiếng gà gáy cả ba nước đều nghe”. 
Cửa khẩu quốc tế Bờ Y Thiêng liêng cột mốc chủ quyền Vừa qua khỏi cửa khẩu Bờ Y, chưa tới khu kiểm soát liên hợp, chúng tôi rẽ trái để đến cột mốc chủ quyền. Nơi đây còn được biết đến như là “túi bom” của toàn vùng Đông Dương trong kháng chiến chống Mỹ. Trước khi lên cột mốc, có một cái barie chắn ngang là nơi đặt trạm biên phòng để canh giữ. Trong một cái lán nhỏ, thiếu úy Hồng Lạc Thoại (30 tuổi, người Giẻ Triêng) và binh nhất A Nhật (20 tuổi, người Xê Đăng) đang vào giờ trực. Các anh cho biết, nơi đây chỉ đông đúc vào các ngày lễ, Tết khi du khách về tham quan cột chủ quyền, ngày thường chỉ có dân địa phương đi làm rẫy ghé chơi. Chiến sĩ biên phòng thay nhau trực ở đây. Có một khu tưởng niệm các chiến sĩ biên phòng hy sinh đang được xây dựng trên một ngọn đồi cao. Dù trời mưa nhưng xe công binh vẫn chở đất đá vào tận đây để gấp rút hoàn thành theo kế hoạch. Cột mốc nằm trên một ngọn đồi cao 1.068m so với mặt nước biển, có tên Đồi Tròn. Ở đây, ngày 18-1-2008 có mặt đầy đủ đại diện Bộ Ngoại giao ba nước, đại diện lãnh đạo ba tỉnh giáp ranh: Kon Tum (Việt Nam), Attapeu (Lào) và Ratanakiri (Campuchia) đã diễn ra lễ khánh thành cột mốc chung. Cột mốc đặc biệt này mang số hiệu 2007, là một khối đá granit nặng một tấn, cao 2m, ba mặt hướng về ba nước. Từ đây đi thủ đô Bangkok của Thái Lan khoảng 1.000km, gần hơn đi thủ đô Hà Nội vài trăm cây số. Lệ thường, các cột mốc biên giới đều chỉ có hai mặt, mỗi mặt ghi số hiệu và Quốc hiệu, Quốc huy hai nước giáp ranh nhau, nhưng cột mốc này có ba mặt. Do vậy du khách nào đặt chân đến đây cũng đều háo hức muốn nhìn tận mắt cột mốc ba mặt. Phóng tầm mắt ra xa, những đồi núi chập chùng của hai nước bạn Lào - Campuchia. Nơi đây, người dân địa phương chủ yếu làm rẫy với cư dân nước bạn. Chờ đợi điểm sáng 
Tác giả bên cột mốc biên giới Hiện chưa có cửa khẩu mở sang Campuchia, từ ngã ba Đông Dương theo đường 40 đi về phía tây thì gặp cặp cửa khẩu quốc tế Bờ Y - Phu Cưa thông thương qua Lào. Ngày 19-5-2010, nhân kỷ niệm 120 năm sinh Hồ Chủ tịch, đại diện hai nước Việt Nam và Lào, đại diện hai tỉnh Kon Tum và Attapeu đã làm lễ khánh thành cột mốc 790 phân ranh hai nước trên đỉnh Dốc Muối, là nơi thời chống Mỹ có một kho muối phục vụ chung cho chiến trường ba nước. Cột mốc 790 khởi công từ năm 2009 với kinh phí trên 3 tỷ đồng, bằng đá granit nguyên khối, đế rộng 1,6m, cao 2,2m. Cạnh cột mốc, ngày 9-7-2010 cũng đã diễn ra lễ khánh thành khu Kiểm soát liên hợp Việt Nam - Lào. Cửa khẩu vào Lào được gọi là Phu Cưa, nghĩa là Dốc Muối. Tọa lạc tại bản Phu Cưa, huyện Phu Vong, tỉnh Attapeu, nơi đây còn nổi tiếng là quê hương của nhiều lãnh tụ nước bạn. Ông Nguyễn Trọng Hảo - Trưởng ban Quản lý khu kinh tế Bờ Y - cho biết, thu ngân sách tại đây còn cao hơn thu nhập của cả huyện Ngọc Hồi. Bờ Y có một vị thế đặc biệt, cũng như A Pa Chải ở Điện Biên (cột mốc ba mặt ở A Pa Chải được cắm năm 2005). Từ sáng kiến của Thủ tướng ba nước Đông Dương, cửa khẩu Bờ Y được xác định là trung tâm của tam giác phát triển, xây dựng nhờ nguồn vốn ODA của Nhật Bản. Nằm trên trục hành lang phát triển đông tây, nối đông bắc Thái Lan với Việt Nam, lấy tỉnh Upon (Thái Lan) làm điểm nhấn thông qua Bờ Y để nối với cảng Quy Nhơn (Bình Định), theo QL40B đi cảng Kỳ Hà, Chu Lai (Quảng Nam). Mỗi ngày có trên 40 chuyến xe khách từ các tỉnh miền Trung và Tây nguyên qua cửa khẩu này để đến Viêng Chăn, Champasak... của nước bạn. Lý giải về siêu thị miễn thuế còn ít người, ông Hảo cho rằng do quá xa khu dân cư của hai nước nên hoạt động thương mại chưa sầm uất. Phía Lào phải đi 52km mới tới siêu thị, phía Việt Nam phải đi 6km. Khác với phía Việt Nam, nhiều đoạn đường đang xuống cấp vì xe chở gỗ, bên nước bạn Lào thì đường khác hẳn. Con đường 18, sau đó nhập với đường 13, nối hai tỉnh cực nam Hạ Lào là Attapeu và Champasak do Việt Nam giúp Lào xây dựng cách đây không lâu, như một dải lụa len lỏi giữa rừng đại ngàn. TP.Hồ Chí Minh lên Kon Tum mất trọn một ngày nhưng chỉ cần một nửa thời gian ấy để đặt chân tới Pakse, thủ phủ tỉnh Champasak, dù quãng đường có độ dài tương đương. Bình yên nằm bên dòng sông Mekong, Pakse và Champasak là chốn du lịch khám phá lý tưởng. Nơi ấy có đền Wat Phou, di sản thế giới, chốn phát tích của Angkor; có thác Khôn lớn nhất Đông Nam Á, có quần thể 4.000 hòn đảo... nơi ngã ba biên giới. Cách cửa khẩu Việt Nam và Lào không xa là cửa khẩu Contuneo (tỉnh Ratanakiri, Campuchia). Do dân cư chưa phát triển, chưa có đường về trung tâm tỉnh nên cửa khẩu nước bạn chỉ có hai trạm biên phòng của hai nước. Muốn tới trung tâm huyện, tỉnh trưởng tỉnh Ratanakiri phải đi qua cửa khẩu Lệ Thanh (Gia Lai), đi vòng qua Bờ Y của Việt Nam mới tới huyện lỵ được. Qua khỏi cửa khẩu Phu Cưa của nước bạn, chúng tôi thấy nhiều phụ nữ Việt Nam mang nông hải sản qua bán. Ông Hảo nói vui, đội quân này là “công ty” hai sọt vì chở lủng lẳng hàng hóa hai bên xe máy. Chiều về, họ lại mua sắt phế liệu để về Kon Tum bán kiếm lời. Họ đi xe máy tới tận trung tâm tỉnh Attapeu. Ngày trước, họ đi có giấy thông hành (có sọc đỏ), giờ thì dùng CMND có giấy xác nhận của xã là được. Chị Nguyễn Thị Lệ (40 tuổi, quê Hải Dương) cho biết, mỗi ngày nếu cố gắng bán và thu mua đầy chiếc xe máy thì chị kiếm được cả triệu đồng. Số tiền này ở quê nhà thật khó kiếm. Chiều biên thùy Giáp nước bạn là thôn I ệk, xã Bờ Y với những người dân tộc Ca Dong. Ông Thao Pun Him (49 tuổi, người Xê Đăng, Phó chủ tịch HĐND xã) dẫn chúng tôi đi thăm một vòng làng tái định cư giáp biên khi nắng xế chiều. Đi cùng chúng tôi, thôn phó Dương Văn Hiếu (27 tuổi) cho biết, thôn có 309 hộ, hơn 1.000 khẩu nhưng chỉ còn ba hộ nghèo. Hầu hết họ đều được Nhà nước cho vay vốn làm ăn nên dần thoát nghèo. Báu vật của người dân ở đây là loại chiêng tha do người Lào mang qua nhưng nay không còn. Cả thôn chỉ còn vài bộ chiêng múa xoan (người Ca Dong gọi là gon chen - P.V). Trước kia, loại chiêng này để đánh đám ma, lễ đâm trâu song do kinh tế khó khăn, bà con đổi chác cho người dưới xuôi nên thất truyền. “Người già không còn, thợ đánh chiêng không còn, lớp trẻ thì không chịu khó học nên người chơi nhạc cụ này hiếm lắm” - anh Him nói. Loại chiêng này trước đây phải đúc mất một - hai tháng. Người Ca Dong phải mua bằng trâu bò và vàng bạc, giờ thì bán... theo ký. Một trong những người giữ lại bộ chiêng ba cái (độ lớn nhỏ khác nhau) cuối cùng của thôn là ông A Cheo (56 tuổi, từng đi bộ đội ở chiến trường Campuchia). Ông Cheo là cha vợ của anh Him. 
Anh Thao Pun Him (bìa phải) cùng cha vợ là người Ca Dong và em cột chèo Ngoài thất truyền nghề đánh chiêng, người Ca Dong còn không giữ được lễ cúng lúa mới, lễ đâm trâu. Ngày trước, chuẩn bị lễ này phải mất bốn - năm ngày. Nhiều gia đình vào rừng chặt cây chuối, cây mây, cây đát. Ai nấy cũng đoàn kết lắm nhưng tới nay do công việc quá bận rộn, thời gian lên rẫy không ổn định nên người Ca Dong không muốn làm lễ này nữa. Ông Nguyễn Hữu Bảng - Chủ tịch UBND xã Bờ Y - cho biết, cả xã có 15 dân tộc nhưng đông nhất là người Ca Dong. Xã rộng hơn 12.000 ha, khoảng 6.600 khẩu và 1.608 hộ, có 9km giáp Lào. Trong năm nay, xã sẽ mở lớp đào tạo cồng chiêng để bảo tồn văn hóa bản địa. Xã đang vận động cụ A Hre (thôn Ke Joi) truyền nghề đánh chiêng cho thanh niên. Chị I Viên (SN 1980, người Ca Dong, hiện là Phó chủ tịch Hội phụ nữ xã Đắk Xú) nói rằng, các phong tục lạc hậu của người Ca Dong đã bị bãi bỏ. Cuộc sống hiện đại từng ngày nên “của quý” trong quá khứ cũng mờ dần. Nhiều thanh niên trong làng lên thành phố tìm cái chữ, chỉ còn số ít người già và trẻ em ở nơi thâm sơn cùng cốc này. Bí ẩn người Brâu Người Brâu ở làng Đắk Mế, xã Bờ Y. Trưởng làng Thao Lợi kể bằng giọng trầm buồn rằng, tộc người Brâu vốn ở biên giới sát Campuchia, Lào và Việt Nam, từng phải dời làng đến 11 lần mới về nơi định cư bây giờ. Lý do các lần dời làng, một phần do đất ở quá khắc nghiệt, chiến tranh, một phần do bệnh tật ốm đau mà người Brâu cho rằng có “bóng ma” gây ra. Trước khi đến định cư ở đây, họ còn bị cháy rụi nhiều ngôi nhà sàn. Ông trưởng làng cùng vợ là chị Nàng Sai đang lợp nhà để làm lễ cúng giải xui. Đây là lễ cúng vào loại lớn nhất của tộc người này. Ông Lợi giải thích, người đàn ông Brâu có họ Thao, phụ nữ họ Nàng. Với người Brâu, có bốn tục đặc trưng mà ít dân tộc nào có là căng tai, vẽ mặt, cà răng và đeo còng ở chân, tay. 
Người già Brâu luôn hút thuốc bằng tẩu Đi trong làng, chúng tôi thấy những cây nêu (người Brâu gọi là lan) dùng trong lễ đâm trâu. Ngồi trước hiên nhà, ông Thao Công (94 tuổi) và vợ là bà Nàng I Dui (80 tuổi) đang ôm đứa cháu ngoại là Nàng Nia (học lớp 3, Trường tiểu học Bế Văn Đàn gần đó). Cách đây một thời gian, đứa cháu gái bị bệnh cùng lúc với ông ngoại, bà Dui phải mời thầy cúng về làm lễ giải xui. Gà trong nhà thì có nhưng trâu thì phải mượn của hàng xóm. Nhà ông bà trước đây có chiêng tha (đồng bào gọi là gong) nhưng đã bán để lấy một con trâu trắng cách đây mười năm. So với nhiều dân tộc khác thì người Brâu còn nguyên thủy, trai tráng đều đeo dao dài ba tấc lủng lẳng bên hông. Có lẽ vì tồn tại giữa nơi sơn lam chướng khí, đối mặt với thú dữ ở ngã ba biên giới nên họ còn giữ thói quen trong sinh hoạt này đến nay. Ông Nguyễn Duy Cường - Phó chủ tịch xã Đắk Xú cho biết, người Brâu rất tôn kính lễ cúng. Nhiều người Kinh không biết, vào khu vực này đều bị dân làng giữ lại, đòi phạt trâu gà. Nhiều lần nhận điện thoại cầu cứu, ông Cường đã chỉ đạo công an xã đến nơi, thương thuyết mới xong. Dân tộc Brâu có dưới một nghìn người, có nhà kiên cố cấp bốn, khu sản xuất được đầu tư chu đáo. Mỗi hộ được Nhà nước cấp một con bò, một hécta cao su, một hécta đất trồng cây bời lời. Từ năm 1975 đến nay, họ không còn xăm mặt như trước. Chỉ vài cụ là đeo khuyên tai, giới trẻ chỉ đeo khuyên tai vào các ngày lễ tết. Các em nhỏ sau này không phải cà răng, căng tai như trước vì đời sống thành thị đã tràn ngập vào đây dù các trưởng làng luôn muốn níu giữ. Cấm địa của người Rơ Ngao So với những tộc người khác trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, cuộc sống của người Rơ Ngao (một nhánh của dân tộc Băhnar ở xã Tân Cảnh, huyện Đắk Tô) phải vượt qua một cây cầu dài mới đến buôn làng của họ. Họ sống nhiều trong những ngôi nhà cũ kĩ giữa hơi thở của rừng già. Trưởng thôn A Nhít cho biết, tục lấy chồng sớm vẫn còn quen thuộc ở đây. Chị I Ghim (21 tuổi, sống gần nhà rông) nói chị lấy chồng từ lúc 17 tuổi. Chồng chị là anh A Púi (24 tuổi) làm rẫy như chị. Hàng xóm của chị Ghim là chị I Đô (20 tuổi) cũng lấy chồng là anh A Đại từ khi 16 tuổi. Đến nay gia đình chị đã có hai con. Con lớn chị mới ba tuổi, đứa còn lại đang trong bụng mẹ. Người Rơ Ngao cưới cũng mổ trâu bò nhưng không đăng kí kết hôn như người dưới xuôi. Trước đây, tục chặt củi lấy chồng là điển hình của dân tộc này. Các cô gái muốn lấy chồng thì phải lên rừng chặt củi, xếp thành từng đống to tướng để nhà trai thẩm định. Tục mẫu hệ rất được coi trọng, nhưng hiện nay cũng không còn. “Tục ở rể cũng không còn như trước. Ánh sáng văn minh đã làm làng chúng tôi không còn những hủ tục xưa nữa đâu” - chị I Mối, chủ tịch hội phụ nữ thôn cho biết. Số phận những loại thuốc tuyệt mật Khi những cây thuốc trên đại ngàn được phát hiện bắt đầu từ cây sâm K5 (Ngọc Linh), từng dãy rừng Trường Sơn đã bị khai phá ồ ạt. Sau đó là nấm linh chi, sâm dây (sâm đất) cũng làm vùng đất này không còn yên tĩnh. Tại thị trấn Đắk Tô (huyện Đắk Tô), chúng tôi hỏi về các loại cây thuốc quý này thì ai cũng biết, không giống như người dân ở thị trấn Plei Kần (huyện Ngọc Hồi). Hiện là mùa mưa nên không có sâm dây tươi mà chỉ có sâm dây khô giá 400 nghìn đồng một kí. Mùa khô thì trước và sau Tết, sâm tươi chỉ 60 - 80 nghìn đồng một kí. Nó được mang về TP.Hồ Chí Minh và có giá hơn một triệu đồng. Tại đây, giá mỗi kí sâm Ngọc Linh tùy loại lớn nhỏ từ 30 đến 100 triệu đồng. Tuy nhiên, người bán không biết cách phân biệt loại thật giả. Muốn mua bao nhiêu thì cứ gởi tiền trước và số điện thoại, họ sẽ thu gom và chuyển về TP.Hồ Chí Minh bằng xe đò. Qua khỏi xã Đắk Trâm, vượt đèo Văn Rơi (người Xơ Đăng gọi là Măng Ri), chỉ hơn sáu km nhưng địa hình dựng đứng làm ai đi xe máy cũng thót tim. Trên đỉnh đèo mây phủ, những em nhỏ người Xê Đăng gùi hàng và vào rừng đào sâm dây (người Xê Đăng gọi là bom ta tô), nấm linh chi (người Xê Đăng gọi là xoa) để bán. Tìm những con suối róc rách, họ ngồi rửa và căng bạt trên mặt đường đèo quanh co để bán. Họ không bán theo kí lô mà bán theo từng mớ. Mớ nào nhiều thì 150 nghìn đồng, mớ ít 100 nghìn đồng. Khách của họ là những chuyến xe hơi hay người đi xe máy tạt vào mua rồi phóng nhanh khỏi đèo. Do mới chia tách huyện nên thủ phủ của huyện đang đóng tạm tại xã Đắc Hà. Từ đây, đi tới cực bắc của tỉnh là huyện Đắk Glei, giáp với các huyện Bắc Trà My, A Lưới (Quảng Nam) - nơi có khu bảo tồn sâm Ngọc Linh. Do có khí hậu tương đồng với “người láng giềng” nên nơi đây được mệnh danh là quê hương của sâm Ngọc Linh và sâm dây. Ông Nguyễn Văn Nam - Chủ tịch hội nông dân huyện Tu Mơ Rông cho biết, hai năm qua có một số hộ dân trong huyện đã trồng được loại sâm dây. Thời gian trồng phải mất hai năm, hứa hẹn việc phát triển kinh tế vì từ cuối năm một đã cho khai thác. Riêng sâm Ngọc Linh thì hiện có nhiều loại giả. Nó có hình thù giống củ tam thất nên chỉ có các chuyên gia mới xác định được. Ông A Phen (chủ tịch hội người cao tuổi của huyện, 65 tuổi, người Xơ Đăng bản địa) nói rằng, ngày trước khi đi bộ đội trên rừng, ông đã phát hiện ra loài sâm dây này, nấu nước uống rất tốt cho sức khỏe. Ông và đồng đội từng nhai thân, lá của loại cây này để chống đói. Sâm dây phát triển mạnh vào trước và sau tết. Riêng đối với sâm Ngọc Linh thì ông nói loại sâm quý giá này có nhiều loại lớn nhỏ, có cây năm lá, có cây ba lá. Nhiều trường hợp người mua đến đây mua còn bị con buôn “thuốc” phải hàng giả. Cách trung tâm huyện Tu Mơ Rông 20km, xã Măng Ri nằm ở cuối huyện giáp với Quảng Nam có khu bảo tồn sâm Ngọc Linh, cao 2598m. Nơi đây đang chăm sóc, nuôi dưỡng loại sâm quý này trước nguy cơ tuyệt chủng và sẽ chuyển giao công nghệ cho người dân để tạo sinh kế cho họ. Khi đó mới đích thực là sâm thật còn bây giờ mọi chuyện xác định chúng vẫn chưa có hồi kết.
|